Share |

Văn nghệ dân gian dân tộc vào cung đình

Địa dư cao Bằng, người xưa từng mô tả:

Đầu cuối giáp Lạng, Tuyên

 

(Lạng Sơn, Tuyên Quang)

Tây Đông giáp Vân, Quảng

(Vân Nam, Quảng Tây)

Dân xen kẽ Thổ, Nùng

Đất gập ghềnh núi khe.

(Cao Bằng ký lược)
Năm 1941, khi ở Pác Bó, Bác Hồ điểm số dân cư trong tỉnh như sau:

Có gần chín vạn đồng bào

Bốn vạn người Thổ đứng đầu số đông

Hơn ba vạn tám người Nùng

Hơn năm nghìn Mán ở vùng núi non

Hoa kiều tính hai ngàn tròn

Người Kinh ít nhất tính còn ngàn hai.

(Lịch sử Đảng bộ Cao Bằng)

Như vậy người Tày và người Nùng chiếm 86% dân số toàn tỉnh. Tiếng Tày - Nùng thành tiếng giao thiệp chính tại địa phương. Người Tày - Nùng dùng thể thơ thất ngôn lưu thủy hoặc cổ phong diễn tả ý tứ văn hoa vần vèo. Họ dùng hai thể thơ này trong mọi sinh hoạt văn hóa giao tiếp từ giải trí, giao duyên, chúc tụng đến cúng bái, tang lễ, lâu đời thành truyền thống.

Thơ dân gian của họ cũng khả dĩ gây hưng phấn, xoa dịu nỗi phiền muộn, chú ý quan sát có thể tìm ra điều hay điều dở, tập hợp nhiều người thưởng thức, song ở ta các triều đại trước chưa từng có ai tìm kiếm thu nhặt, san định, truyền bá.

Người Tày - Nùng cũng nghĩ ra và làm nhiều thứ nhạc cụ để tạo thành bát âm (thép, đất, da, gỗ, đá, đồng, tơ, trúc). Trong số đó cây tính tẩu và chùm nhạc xóc được sử dụng phổ biến hơn cả.  Cây tính tẩu dùng đệm ca từ, chùm nhạc xóc để giữ tiết tấu. Thời xưa cây đàn tính dùng chơi tùy hứng, còn chùm nhạc lại được coi thần linh ban xuống chỉ dùng trong nghi lễ. Chùm nhạc được hình dung là dây cương ngựa rong ruổi trong cõi hư vô. Thử nghe tự sự về hai nhạc cụ này:

Cây tính:
Tính rậy tính mạy vác mòong còong
Tính rậy tính may toòng mòong chẳng
Bảng dú rích tẳng su
Nu pài cà diết lịn
Kỉ lai slao ái tinh tính rà

Dịch:
Đàn tội đàn gỗ vác ngân vang
Đàn tôi đàn gỗ vông trầm nghị
Bằng nước lịm lắng tai
Chuột mái tranh chặc lưỡi
Bao cô nàng đắm đuối tính tôi

Chùm nhạc xóc:
Sưởc lục sưởc thau kìm
Lìn lục lìn thau cát
Pay lắc khái lao nhùng
Pây lắc không lao khát
Củm thua xo Pựt cốc
Mai mừng xo Huyền Đàn
Au hử slam tháp lếch
Au hử chất tháp khang
Mì sưởc khang khủn lo
Siêu khát bấu lao nhùng
Siêu không bấu lao khát

Dịch:
Dây con sợi dây rừng
Dây con sợi dậy móc
Đi một khúc sợ sờn
Đi chặng đường sợ đứt
Cúi đầu xin Pựt cốc
Ngửa tay xin Huyền Đàn
Ban xuống ba gánh thép
Ban xuống bảy gánh gang
Dây cương sắt lên đường
Dây cương gang hành lộ
Ngàn trùng chăng lo sờn
Muôn dặm không lo đứt.

Pựt cốc, Huyền Đàn là tổ sư nghề Pựt then. Người làm nghề Pựt then (loại đồng bóng dân tộc Tày - Nùng) sử dụng hai nhạc cụ này khi hành lễ.

Cuối thế kỷ XVI, nhà Mạc bị nhà Hậu Lê  đẩy khỏi kinh thành Đông Đô bèn chọn đất Cao Bằng làm kinh đô mới. Lễ đăng quang tổ chức trọng thể từ tháng chạp năm Nhâm Thìn (1592), đến sang giêng Quý Tỵ (1593), đặt niên hiệu là Càn Thống, đối lập niên hiệu Gia Thái của vua Lê Thế Tông ở Đông Đô.

Vương triều Mạc vừa lo tăng cường quân sự xây dựng kinh tế, còn chú trọng giáo dục, đào tạo nho sĩ để quản lý xứ sở. Liền định lệ cứ 3 năm mở khoa thi Hội. Năm Ất Mùi (1595) khoa thi hội thứ nhất được mở ở Cao Bình, năm Mậu Tuất (1598) khoa thứ hai.

Bế Văn Phủng, người tổng Nhượng bạn, châu Thạch Lâm và Nông Văn Nọong người ở tổng Nga Ổ, châu Thượng Lang dự thi hai khoa trên, đều đỗ tiễn sĩ, biết tiếng nhau, tìm kết làm bạn tồng, bàn soạn thơ phú. Hàng năm mùa xuân, hai người tổ chức đoàn trai gái trẻ hai quê kết nghĩa đến thăm nhau, đàn hát náo nức vui vẻ. Mỗi kỳ họp mặt, cả vùng nhân dân kéo đến xem đông như hội háng toán.

Dưới sự dẫn dắt của hai nhà nho đặt ca từ lời hoa thêu, gấm dệt; qua các kỳ giao lưu, xuất hiện nhiều trai thanh gái lịch đàn giỏi, hát hay.

Năm Canh Tý 1600, vua Lê Thế Tông ở Đông Đô mất. Trịnh Tùng chuyên quyền tự chọn vua mới, lòng dân không yên. Đông Đô rối loạn. Nguyễn Hoàng bỏ vào Nam. Một số tướng lĩnh bỏ Lê theo Mạc. Trịnh Tùng phải rước vua trẻ Lê Kính Tông lánh nạn chạy về Tây Đô. Người nhà họ Mạc ở Hải Dương, Sơn Nam (Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình) rước mẹ Mạc Mậu Hợp về Kinh, tôn là Quốc Mẫu: Quốc Mẫu sai người đón Mạc Kính Cung hồi loan. Nhận tin, Mạc Kính Cung mừng rỡ, vội thu thập hầu hết quân binh kéo về xuôi, vào tháng 7 mùa nước đang dâng.

Bất ngờ tháng 8, Trình Tùng tập hợp đủ quân phản kích vào Đông Đô, bắt mẹ Mạc Mậu Hợp đuổi quân Mạc Kính Cung tan tác. Mãi tháng năm sau, Mạc Kính Cung mới dẫn được một số tàn quân trở về thành Nà Lữ. Từ đấy vua Mạc bị ốm o, mỏi mệt, các ngự y chữa mãi không đỡ.

Truyện Đoàn Giảng kể như sau:

Nguyên là Pùa Mạc Kính Cung vương
Vằn quẹng dú chang cung buồn rấu
Triệt các quan khẩu chầu hậu cung
An cung nữ mủa mừng chúc chúa
Bế Phủng là tặt oóc pựt Tày
Mừng tói tính kha vay xáu mjảc
Lược lọi phình Pác Miảc đay slao
Tập hử thạo dắng au khảu tiến
Chầu Kính Cung sùm khoa vui quả.

Dịch:
Nguyên do chỗ qua Mạc Kính Cung
Ngày vắng ở trong cung buồn rầu
Triệu các quan vào chầu hậu cung
Lấy cung nữ múa mừng chúc chúa
Bế Phủng dùng vốn cổ Pựt Tày
Tay gẩy đàn chân vẩy xóc nhạc
Toàn nữ tú giọng ngọt giai  nhân
Tập thành thạo mới dâng trình diễn.
Chần Kính Cung tại chốn để đó
Được Kính Cung ngự ưa vui quá.

Bấy lâu người ta nghĩ rằng Bế Phủng trình diễn then chữa bệnh nên vua bình phục, nên được vua phong chức Quản nhạc tiếp chức Tư Thiên

Gần đây qua tìm hiểu sâu; suy đoán thấy Bế Văn Phủng không đơn giản tổ chức đấm then gọi vía, nối mệnh theo truyền thống tín ngưỡng dân gian, mà dịp này trình bày Luận Tam Nguyên đầy đủ lý và trí.

Bế Văn Phủng biết qua ốm vì thất trận, bao nhiêu lực lượng tích cóp nhiều năm bị tiêu tán tâm thần lo lắng bất định, nên đưa ra phương lược luận điểm khả thi để vua yên lòng. Dựa vào quy luật tuần hoàn, âm dương suy thịnh, về nhân tình thế thái, về phép an dân trị nước, phác họa viễn cảnh huy hoàng, giải tỏa bế tắc của vua.

Lược bỏ những chuyện vòng vo kinh điển sử cũ tóm tắt nội dung Tam nguyên luận qua trích câu sau: (nguyên văn nôm Tày, tạm dịch).

Thoạt đầu tác giả khẳng định tài luận đoán của mình:

- Trời đất trong bàn ray bấm độn
Biết thời vận lãnh chúa minh quân
Đợi âm tiêu đến chỗ dương sinh
Sẽ tự lập công danh thân sự

Thời hiện tại trong tuần Hạ Nguyên:

- Thời loạn thì sinh lòng ích kỷ
Chỉ biết mình chẳng nghĩ đến ai

- Đời này còn tìm đâu nhân nghĩa
Thấy yếu liền coi rẻ, coi thường

- Từ bằng hữu, quân thần, tôi chúa
Thấy khó liền phụ bỏ rời nhau

Nhưng tiếp sẽ đến tuần Trung Nguyên:

- Khó, quân tử vẫn theo thi lễ
Giàu, tiểu nhân bội nghĩa vong ân

- Kim ngư còn đợi kỳ nước mới
Lăm le vượt lam cấp Vũ Môn
Vội chi mà lội dòng nước dục
Đây chịu khốn lưu vực nước sông

- Nếu thiên thời dân thuận là yên
Mất lòng trời dân than là loạn

- Tuần này ắt hết tuần loạn lạc
Bĩ cực rồi tới túc sang trang

Tác giả từng theo dõi thiên văn:

- Canh ba ra trông ngắm lên trời
Thử xem rằng năm tới ra sao
Trời sẽ cho tiên tri điều lệ

Xem phương nào thánh chúa sẽ sinh

Thấy rằng:

- Tuần này lại về ẩn bắc phương
Thuận khí tụ về nơi chính sóc

- Chiêu người hiền, bỏ bọn gian tham
Tìm người tài khôn ngoan hào kiệt

- Nước non nay đẹp đẽ xiết bao
Tướng sĩ đồng nhất tâm hiệp lực

- Ngày hoàn sẽ rơi vào cung tốn
Độn thấy rằng khí thủy hợp về
Nước từ xưa lấy dân làm gốc
Thiên địa lợi chẳng bằng nhân hòa

- Quyết thâu tóm đưa về thống nhất
Không còn gì phiền nhiễu lương dân

- Vua ngự đến Thăng Long tức vị
Chu quân khắp mọi chôn trông về

- Mừng rằng đời mát mẻ dài lâu
Bõ khi xưa tuyết sương rét mướt

- Giờ đây có môn son trướng yếm
Bõ khi xưa cuốn áo gôí đầu

Rồi sẽ đến tuần Thượng Nguyên:

- Bĩ cực lại đến tuần thái lai
Qua thời loạn đến thời thịnh trị
Vận vần xoay quốc rổ an cư
Dân tình được phong lưu an bài
Sống như thời Đường Ngu thịnh thế
Hội phong vân Chúa quý thần linh

Xem vậy rõ ràng Tam Nguyên luận là bản tấu trình phương lược triều chính với vua Mạc Kính Cung. Hình thức trình diễn theo truyền thống văn nghệ dân gian Tày - Nùng, nhưng nội dung bác học do quan Tư Thiên tiến sĩ Bế Văn Phủng sáng tác.

Bấm đốt ngón tay, sự kiện trên diễn ra trong thành Nà Lữ vào khoảng giữa năm Tân Sửu 1601. Lần đầu Văn nghệ dân gian Tày – Nùng được trình diễn trong cung đình, chữa khỏi bệnh trầm uất nhà vua, hát Then tỏa tiếng thơm uy tín. Tiếp theo sau là một mùa nở rộ các sáng tác truyện thơ bằng chữ nôm Tày; các nhà sưu tầm, riêng tại đất Cao Bằng đã có vài chục cuốn. Và nay Bế Văn Phủng được lưu tên trong Từ điển văn hóa Việt Nam.

Vương Hùng

Comments (0)

Subscribe to this comment's feed

Write comment

smaller | bigger

busy

Tin liên quan:
Tin mới hơn: