Share |

Người Tày chống thuốc phiện

THỜI GIA LONG NGƯỜI TÀY CHỐNG THUỐC PHIỆN TÀU

BÀI THƠ NÔM TÀY CHỐNG THUỐC PHIỆN CÁCH ĐÂY 180 NĂM

Cung Khắc Lược

Để góp phần nhỏ vào công cuộc cả nước ta hiện đang ra sức ngăn chạn, đi tới xóa bỏ các tệ nạn xã hội, như gieo trồng và buôn bán thuốc phiện, hút hít tiêm chích ma tuý v.v… chúng tôi muốn được trình bày ở đây về một bài thơ cũ viết bằng chữ Nôm của người dân tộc Tày cách ngày nay (1998) đã 180 năm, mang tính chiến đấu sắc bén chống lại thuốc phiện, đồng thời vạch rõ tác hại vô cùng ghê gớm của việc nghiện hút, thể hiện tấm lòng yêu thương xót xa nòi giống, lên tiếng khuyến cáo mọi người thuộc mọi dân tộc trong nước ta hãy đồng lòng chung sức “đuổi xa con khỉ độc thuốc phiện”, phá tan âm muư thâm hiểm của các kể thù ngoại bang dùng thuốc phiện, tửu, sắc để nhằm huỷ diệt ngấm ngầm sinh lực các dân tộc Việt.

* Bài thơ có nhan đề Đọc âm Tày là Sli Da Phiền. Nếu đọc theo âm Hán Việt lại là Thi Nha Phiến. Cả bài gồm 80 câu. Phần lớn các câu 7 chữ, thỉnh thoảng có câu đôi 1 chữ. Hình thức câu thơ như thế, xưa nay người Tày thường gọi là thơ thất ngôn trường thiên và được sử dụng một cách phổ biến để sáng tác những bài thơ dài, đặc biệt là viết truyện thơ.

* Tác giả của bài thơ là ai?

Chính là: Cao Bằng tỉnh Hòa An ấp tử Lục Minh Kim, dịch ra tiếng Việt là: “Người con của ấp Hòa An tỉnh Cao Bằng (tên) là Lục Minh Kim”. Ông không nói là “sáng tác như chữ thời nay, mà viết ở dưới dòng tên mình bằng 2 chữ: Bút đề, theo chúng tôi hiểu là: (Cầm) bút đề (thơ). Như vậy rõ ràng là sáng tác. Tìm hiểu về thân thế và sự nghiệp của tác giả, chúng tôi đã khảo cứu thêm qua sách Lục tộc thế phả(1) và tìm về tận nơi địa phương hỏi thêm các vị như Lục Văn Lần, Lục Minh Kiến, cũng có tham khảo thêm cả ý kiến ông Lục Văn Pảo ở Viện Dân Tộc học, thì được một số thông tin như sau: + Cụ Lục Minh Kim sinh vào khoảng cuối thời Lê Cảnh Hưng (1785 hay -86 ?) và mất vào năm 85 tuổi (thọ), tức 1871 thời Tự Đức. + Được học từ ông cha mình và gia đình về ssau có mời Thầy đồ về dạy; không đi thi. + Từ thuở đồng ấu “thông ngỏ” hơn người, sáng làng về đàn nhạc, âm luật và ưa thích thơ ca, lý hạng cùng các truyện thơ cổ. + Cụ để laịi cho con cháu một số sách do cụ viết như: Thổ Ngữ Sưu Tập, Hòa An Phong Thổ Ký, (Sli Slư nam (= Thơ viết bằng chữ Nôm Tày). Những sách này hiện giờ ông Lục Minh Kiến là chắt 6 đời trực hệ của cụ, là người biết chữ Nho và chữ Nôm, còn gìn giữ được khá tốt. Bài thơ Sli Da Phiền được viết trong cuốn Sli SLư Nam này.

Căn cứ vào bài thơ vốn viết bằng chữ Nôm Tày mà cố gắng thử phiên âm ra tiếng Tày hiện nay, để các nhà nghiên cứu có dịp tiếp cận với tiếng Tày và nhất là để đồng bàô Tày cũng cảm thông.

Tạm dịch bài thơ ra tiếng Việt để tất cả chúng ta cùng biết. Những chỗ nào cần làm rõ hơn, có chú thích ở cuối bài.

* Phiên âm tiếng Tày (2)

SLI DA PHIỀN

01. Bút chép tởi Rườn Nguyễn hất vương

Ngoại quốc cần Bắc phương slinh chước

Bày tạo pền hàng duốc da phiền

Toọc duốc khai tằng miền đin nước

05. Tự xuôi thâng ngược hại muôn cần

Mội điếu ngần chèn ước hả phân

Lại phuối lừa “thập toàn đại bổ” (?!)

Thiên hạ chầu slắm slửa vỉ vang

Điếu túc no xui vàng lân phượng

10. Đồ đén vạ muôn tượng cảnh dân

Còn tặt tẻ trang lầm pét các

Dự khai tham dầu lạc tẻm tăng

Mở tiệm bióoc lăng lăng các kéo

Cắng tót them giường chiếu khân màn

15. Gối phượng chăn loan đăm nắm tẩm

Quây màn nòn “càn khảm” pét mon

Chùa căn chắng lồng nòn hí há

Tiêm doạn dâng hẩu cá liền eng

Vần noọng nhị nòn keng hít hút

20. Đợ xân chàng nghi ngút buồng hương

Cạ đệ tử rườn chương quây slửa

Slắp slắn buồng quạt lửa slim dèo

Tằng cảm tông hái theo va nhị

Sloong slíp pi phông nhụy phơi mầu

25. “Bủ thượng hạ” xa cầu cúa lả

Péng khảo, trà sen vạ táo lê

Đo mĩ vị thỏa thê nông nống

Chùa căn kin chài noọng nứng on

“Tiểu bổ” da hất luôn “Đại bổ”

30. Lão cu cu Sực lẩu áp kê

Tửu nhục đã hả hê phủ tạng

Lẻ thâng tuyện “lai vãng âm dương”

Kẻ chầu mì dở dương “ái ý”

Ghiền do lội hú hí mân mê

35. Áp noọng nhụy lỉn huê khoái chí

Liền eng cắp liền chị mây mưa

Ná chắc lăng sa đà bịnh hoạn…

Voi đú đởn hẩu nên nạn đú

Hạng ô y thường lý hất càn

40. Dân đen cần phạm phải càng slương

Còn lẻ cụng băn khoăn suy nghị

Song le slử ngòi vị pền lừ

Tắc lịn thôi đứ đừ nòn dí

Lúc mì chèn xích ý liểu kin

45. Cụng lẩu nựa doạn tiem hút hút

Cụng noọng kề pát úp song song

Chuột miệng mèo, luồn hông nghí ngoáy

Cạn chèn lội vét xái cụng kin

Vằn quá vằn sơn kiên cụng đổ

50. Phầy da kia chút lở phia vàng

Nàng Then Nâu phá tan gia sản

Xân tàn ma thảm tự phi ma

Mìa lục khỏ, lân la ái ngại

Giận lẻ giận, slương hại cụng slương

55. Hồi đầu muộn, Ma Vương chặn tón

Hỏi tại hâư? lẻ cón do xân

Mắc kế xâm cần Thanh xứ Hác

Sát hại thuổn Nam, Bắc, Đông, Tây

Triệt mòn mỏi cần Tày, cần Mán

60. Bấu trừ hâư Mèo, slán, Mường, Keo…

Hác còn xui trồng gieo thuốc phiện

Để khẩu, thúa vạ mạy mén pây (!?)

Phú - Lăng - Sa càng gây hiểm độc

Giết thiếu niên, triệt cốc giống nòi

65. Bằng Tửu - Sắc - Gái chơi - Nha phiến

Khuốp mội tỉ lén mén lăng nhăng

Sa đà khảu slam vằng lậc xẳm

Văn minh lăng? - Ngầm ngấm vong nô

Nạn nhân ới! Nguộn cờ tự chủ

70. Dựng thâng pây! Rà ngự Nam Bang!

Pì noọng hợi! Sức rèng thanh tú

Phú túc cùng bần khổ slương căn

Tự Xuôi chí Ngược phăn bấu lẻ

Khuốp bản mường, thành thị mội cần

75. Sĩ, Nông, Công, Cổ slim cò toọc

Xỉnh ngỏ xui! “lình đoọc” đuổi xa!

Cáy khăn dá, Xuân mà đin nặm

Slứ mủa Va phông thắm đào mai

Dân chàu Quốc mẹng càng ngày càng Xuân.

80. Hoàng triều vạn vạn niên, Gia Long Kỷ Mão

Niên thập nguyệt thập tứ nhật Cao Bằng tỉnh

Hòa An ấp tử Lục Minh Kim bút đề.

Dịch tiếng Việt (3)

THƠ THUỐC PHIỆN

01. Bút chép truyện đời Nguyễn làm vua

Người phương Bắc đặt ra mưu chước

Tạo bày nên món thuốc “Da phiền”(4)

Thuốc độc bán khắp miền đất nước

05. Từ miền Xuôi lên miền Ngược hại dân

Mỗi điếu bán “5 phân” tiền giá(5)

Lại lừa rằng “thuốc bổ thập toàn” (?!)

Người giàu sang vội sắm bàn đèn

Mua ống tẩu chạm lân trổ phượng

10. Nạm bạc vàng cảnh tượng xa hoa

Lại mở ra tòa hút lầu tiêm

Mua bán sẵn dầu đèn hảo hạng

Giường chiếu hoa, quạt bảo, chăn loan

Gối mềm, nệm ấm nằm ngâm tẩm

15. Màn buông “Càn - Khảm” đủ các môn(6)

Cùng nhau ngả xuống “nòn” hỉ hả(7)

Sẵn kẻ tiêm dâng “”, hầu anh(8)

Buồng trong có “ả nàng” đón giấc(9)

Đỡ thân chàng bõ lúc đêm sương

20. Đủ đào non hầu gường gối sẵn

Tha hồ mà thỏa mãn lửa nồng

Hoa cứ hái đêm đông mưa gió

Hoa đôi tám phô nhụy phơi mầu

Của lạ ấy “bổ đầu bổ cuối”(10)

25. Bánh khảo, trà sen, cam, chuối, lê

Thừa mĩ vị thỏa thê nông nống

Ăn ăn, uống uống, ấp ấp, ôm ôm

Tiểu bổ” thế! Kèm luôn “đại bổ”!(11)

Cháo chim cu, gà vỗ, vịt ngon

30. Tửu nhục đã êm êm phủ tạng

Lại làm chuyện “lai vãng âm dương”(12)

Kẻ giầu có dở dương ái dục(13)

Ghiền thuốc là lục sục mân mê

Vần bông nhụy, chơi huê thỏa chí

35. “Liền anh” cắp “Liền chị” mây mưa(14)

Chẳng cần biết sa đà bịnh hoạn…

Voi đú đởn, lợn nai cũng đú

Bọn làmquan sa hố làm càn

Mắc màn thương nhất dân đen ấy!

40. Mới đầu còn run rẩy nghĩ suy

Song le lại “thử đi” để biết

Tặc lưỡi thôi, “khói” riết lấy hồn

Có tiền lại quen mồm hút nữa

Cũng rượu chè, cũng ngứa ngáy mần

45. Cũng ấp em, cũng nắn bóp liền

Hang đó nọm mèo viền o chuột…

Hết tiền dơ duốc là thường

Thân hình như tổ ông tàng giời mưa

Ma thuốc xái quật xô cả núi

50. Nàng tiên nâu khuynh bại gia tài.

Thân tàn ma dại vì ai?

Vợ con đứt ruột, người ngoài cám thương

Giận có giận, thương cũng thương

Quay đầu đã muộn, Ma vương(15) đón đầu!

55. Hỏi tại đâu? Hỏi đầu mình trước

Mắc kế thâm ngoại quốc người Thanh

Giết hại khắp dân lành trong nước

Suốt mọi miền Nam, Bắc, Tây, Đông

Chẳng trừ Mèo, Mán, Tày, Nùng

60. Chẳng trừ Sán Chí, người Mường, người Kinh(16)

Người Tầu còn xui mình trồng thuốc

Bỏ sắn, khoai, đỗ, thóc trên nương.

Người Pháp vào càng hiểm độc hơ (?)

Hại giống nòi, triệt mầm non làm đầu

65. Rượu chè, gái điếm, tiên nâu

Ba thứ một kế nhẹm mầu dăng dăng

Ba vực thẳm sa chân khó rút

Văn minh ư? – Nô dịch ngấm ngầm

Nạn nhân ới! Cầm cự tự chủ.

70. Đứng lên đi! Ta giữ nước Nam!

Anh chị em sức đang tươi tốt

Dẫu sang hèn ta cốt thương nhau

Miền Xuôi, Ngược tâm đầu gắn bó

Muôn triệu người công, cổ, sĩ, nông

75. Chốn thôn hương cho chí thị thành

Tỉnh ngộ thôi! “Khỉ độc” đuổi nhanh!(17)

Gà gáy sáng, Xuân mở bình minh

Đất nước mình rạng rỡ đào mai

Bốn mùa hoa thắm tốt tươi

80. Dân giầu nước mạnh lâu dài muôn xuân.

Ngày 14 tháng 10 năm Kỷ Mão niên hiệu Gia Long Hoàng triều vạn vạn niên (1819).

Người con của ấp Hòa An tỉnh Cao Bằng là Lục Minh Kim cầm bút đề thơ.

* Chú thích:

(1) Lục tộc thế phả hiện do ông Lục Mịnh Kiến, chắt 6 đời của tác giả bài thơ gìn giữ tại địa phương.

(2) Phần phiên âm tiếng Tày, chúng tôi có căn cứ vào Từ điển Tày – Nùng Việt của Hoàng Văn Ma - Lục Văn Pảo – Hoàng Chí, Viện Ngôn ngữ học, UB.KHXH. VN do Nxb.KHXH, HN ấn hành năm 1974. Và có được ông Vi Quốc Bảng, CB.giảng dạy Ngữ văn Trường ĐHSP. Việt Bắc góp cho ý kiến. Xin được bày tỏ lòng cảm ơn đến ông.

(3) Phần dịch Việt văn, chúng tôi tạm dịch, sau đó được sự nhuận sắc của hai ông: Lục Minh Kiến, cháu 6 đời của tác giả Hòa An ấp tử Lục Minh Kim và Vi Quốc Bảng, đồng nghiệp giảng dạy Ngữ văn với chúng tôi.

(4) Da phiền: độc theo âm của người Tày ở địa phương. (Nha phiến, đọc theo Hán Việt) tức Thuốc phiện.

(5) 5 phần (tiền): chưa rõ cách tính giá trị tiền thời Nguyễn và qui ra tiền ngày nay thì là bao nhiêu.

(6) Càn và Khảm: 2 quẻ trong Kinh Dịch. Chưa rõ dụng ý gì hay có lẽ chỉ là các vạch trang trí, nhằm đánh vào tâm lí các con nghiện mà thôi (?).

(7) Nòn: (tiếng Tày) nằm, ngủ.

(8) : (nv tiếng Tày), tiếng xưng gọi anh của cha hay người đàn ông vào hàng cha mình.

(9) Ả nàng (nv tiếng Tày): chỉ chung con gái.

(10) Bổ đầu bổ cuối: Cách nói hàm ý mỉa mai.

(11) Tiểu bổ: bổ ít/bổ bé. Đại bổ: bổ nhiều/bổ lớn. Cũng có hàm ý nói mỉa.

(12) Lai vãng âm dương: qua lại âm dương. Ý nói chuyện sắc dục giữa nam và nữ.

(13) Dở dương: gây ra (theo ý kiến của các ông Vi Quốc Bảng và Lục Minh Kiến).

(14) Liền anh: (tiếng địa phương CB)/ Đền Anh (tiếng Thanh Trì)/ Nền anh (tiếng Kinh Bắc). Cũng vậy; Liền chị/ Đền chị/ Nền chị. Tiếng thường dùng của những người hát giao duyên, ả đào, các tay nam nữ giang hồ.

(15) Quỉ thần đứng đầu ở dưới ngục.

(16) Ở Việt Bắc có 2 dân tộc Sán và Sán Chí và Sán Dìu cùng nói một thứ tiếng, hơi khác nhau về thanh điệu, cũng viết chữ theo kiểu chữ vuông.

(17) Khỉ độc: Có lẽ chỉ những kẻ xâm lược độc ác như bọn cai trị người nhà Thanh Trung Quốc cũ, hay bọn thực dân Pháp.

Thông báo Hán Nôm học 1998 (tr.270-279).

Theo Blog Nguyễn Xuân Diện

Comments (0)

Subscribe to this comment's feed

Write comment

smaller | bigger

busy

Tin mới hơn:
Tin cũ hơn: