Đất trời Nà Mạ sinh người anh hùng nhỏ tuổi Kim Đồng (1929 - 1943)
VỊ TRÍ ĐẶC BIỆT QUAN TRỌNG CỦA NÀ MẠ TRONG KHU CĂN CỨ ĐỊA CÁCH MẠNG PÁC BÓ
Làng Nà Mạ thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng, nằm bên con đường nhỏ từ ngã ba Đôn Chương lên Pác Bó (Cách Đôn Chương 1 km, cách Pác Bó 5 km). Nà Mạ là ngôi làng nghèo của người Nùng, vào những năm bốn mươi của thế kỷ trước chỉ có mười mấy nóc nhà. Đất canh tác tương đối tốt vì có con suối Giàng (sau này Bác Hồ đặt tên là suối Lê-nin) chảy qua.
Huyện Hà Quảng sớm có phong trào Cách mạng. Chi bộ Đảng đầu tiên thành lập ngày 20/6/1931 tại hang Phia Nọi, xóm Cốc Sâu, xã Sóc Giang. Phong trào Cách mạng ở Hà Quảng phát triển sâu rộng dưới sự lãnh đạo của chi bộ Đảng. Đến đầu năm 1939, suốt một dải biên cương từ Sóc Giang đến Pác Bó, Kéo Yên các cơ sở Cách mạng được xây dựng, củng cố trở thành địa bàn đứng chân vững chắc của Cách mạng toàn huyện. Cuối năm 1940, sau khi phát xít Nhật vào Đông Dương, phong trào Cách mạng càng gặp nhiều khó khăn. Nhật, Pháp cấu kết với nhau ra sức đè nén, bòn rút xương máu của nhân dân ta. Ở Hà Quảng, các thế lực phản động thừa cơ ngóc đầu dậy, chống phá Cách mạng. Các cơ sở quần chúng bị kiềm toả gắt gao không thể hoạt động được. Trước thực tế đó, chi bộ Đảng Hà Quảng quyết định đưa 12 đảng viên cốt cán và quần chúng trung kiên đang bị địch truy lùng sang hoạt động ở vùng đất Trung Quốc giáp biên thuộc huyện Tịnh Tây vốn là vùng cơ sở của ta từ trước. Số còn lại tiếp tục bám đất, bám dân, củng cố cơ sở Cách mạng trong huyện. 12 đồng chí đó (Lê Quảng Ba, Hoàng Tô, Hoàng Sâm, Thụy Hùng, Đức Thanh, Thế An...) cùng với 28 đồng chí quê Hòa An được Bác Hồ tổ chức, huấn luyện tại làng Nặm Quang rồi đưa về nước hoạt động vào đầu năm 1941.
Ngày 28/1/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh cùng các đồng chí của mình đặt chân lên đất mẹ tại cột mốc 108, chọn Pác Bó, nơi hội tụ đủ 3 yếu tố Thiên thời, Địa lợi, Nhân hòa làm căn cứ địa cách mạng lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Có Bác Hồ, có Đảng lãnh đạo, phong trào cách mạng ở Pác Bó, ở Hà Quảng phát triển mạnh, mang tầm vóc mới với qui mô và chất lượng cao. Chỉ trong vòng 3 tháng (từ tháng 2 - 5/1941) ở các xã thuộc huyện Hà Quảng đã hình thành các tổ chức: Nông dân cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Phụ lão cứu quốc... đoàn kết trên cùng một mặt trận hướng vào mục tiêu chung: Đánh đuổi Pháp, Nhật giành độc lập, tự do.
Trong bối cảnh ấy, đội Nhi đồng cứu quốc làng Nà Mạ được thành lập gồm 5 đội viên do Kim Đồng (Nông Văn Dền) làm đội trưởng. Đội hoạt động dưới sự chỉ đạo của các anh Đức Thanh, Thế An. Thụy Hùng... những học trò, cộng sự của Bác Hồ. Trung tâm đại bản doanh Cách mạng đặt trong rừng núi Pác Bó. Tất cả các tài liệu bí mật (sách báo, chỉ thị, văn bản, thư từ... ) từ Pác Bó chuyển đi các cơ sở trong huyện, tỉnh, về xuôi và ngược lại đều qua làng Nà Mạ. Nà Mạ với vị trí đặc biệt quan trọng đã trở nên vọng gác tiền tiêu tại cửa ngõ Pác Bó, là trạm trung chuyển tài liệu nơi nhiều thời kỳ Châu ủy huyện Hà Quảng đặt tại đây. Nà Mạ cũng là trạm đón tiếp, chỗ ăn nghỉ, đưa đón cán bộ trên đường vào, ra Pác Bó. Nhận thấy vị trí quan trọng của Nà Mạ, đồng chí Đức Thanh, Uỷ viên Ban Việt Minh châu Hà Quảng, phụ trách Thanh niên cứu quốc đã tổ chức ra đội Nhi đồng cứu quốc. Lễ thành lập được tiến hành đêm 15/5/1941 tại Pò Đoi – Thoong Mạ, đặt dấu mốc đầu tiên cho lịch sử xây dựng và phát triển của đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh.
TÊN ĐẤT
Tại Nà Mạ có nhiều địa danh gắn với hoạt động của Đội Nhi đồng cứu quốc đó là: Pò Đoi - Thoong Ma, nơi tổ chức lễ thành lập đội, chân núi Tèo Lai, nơi mai táng đầu tiên và sau này là khu mộ Kim Đồng, hang Nục Én nơi Kim Đồng gặp Bác Hồ, đầu Phai Mục nơi rạng sáng ngày 15/2/1943 Kim Đồng bị bắn và hy sinh anh dũng... tất cả những địa danh này đều mang một ý nghĩa nhất định, gắn với lịch sử mảnh đất.
Nà Mạ: Nà tiếng Nùng là ruộng (Nà Sàm, Nà Rì, Na Luông...) những đám ruộng màu mỡ được hình thành từ ngàn đời, được tưới tắm bởi nước dòng suối Lê-nin khá rộng và bằng phẳng. Mạ tiếng Tày, Nùng có 2 nghĩa chính là con ngựa và mồ mả, nhưng chữ Mạ trong tiếng Nà Mạ không theo 2 nghĩa này mà theo nghĩa: Ruộng có nhiều cây (mạy) Ma. Mạy Mạ là cây thường mọc ở chân núi nơi ẩm ướt hoặc ven suối. Cây thẳng, lá to vừa phải, đặc biệt hoa màu vàng nở chúc xuống đất.
Thoong Mạ: Thoong, Tiếng Tày, Nùng là một cái ghềnh, thác nhỏ (trên sông, suối). Mạ có thể liên quan đến nghĩa con ngựa! Tại sao dân ở đây gọi là Thoong Mạ!?
Tôi đem thắc mắc này hỏi ông Vương Hùng, nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ Tày, Nùng có uy tín mà tôi kính trọng. Ông cười: "Ở những chỗ như thế mùa nước to, nước đổ xuống, dội vào các tảng đá phía dưới, phát ra những tiếng như tiếng ngựa hý, tiếng rầm rập của những bước chân ngựa. Tiếng ngựa chứ không phải hình con ngựa". Tôi cùng ông Vương Hùng "đàm đạo" tiếp về một số tên đất, tên người như: Tèo Lài: Tèo là con đường; Lài là hoa văn: dưới chân ngọn núi ấy có con đường nhỏ, ngoằn ngoèo trông xa như hoa văn của núi nên gọi là Núi Tèo Lài. Hang Nục Én là hang có nhiều chim én đến làm tổ nên gọi là hang Chim én. Phai Mục là cái phai (mương phai) gần đó có nhiều bãi cỏ để chăn dắt trâu, bò, ngựa ... và Pò Đoi có nghĩa là một cái gò nhỏ đứng lẻ loi, đơn độc (như vợ chồng Ngâu). Đoi = Ngâu.
TÊN NGƯỜI
Dân tộc nào cũng vậy, ở vùng đất nào cũng vậy Những cái tên đặt cho từng người đều có ý nghĩa, đều có xuất xứ. Tên, bí danh của Kim Đồng và các đội viên đội Nhi đồng cứu quốc cũng không "nằm ngoài" những điều đó.
Kim Đồng, tên thật là Dèn (Nông Văn Dèn). (Dèn chứ không phải là Dền). Dèn tiếng Tày, Nùng có nghĩa là Tiền (Dền không có nghĩa gì cả). Khi sinh Dèn, hẳn là bố mẹ mong đứa con trai của mình sau này sé có cuộc sống tốt, có nhiều tiền bạc. Đó là điều ước muốn khi đặt tên, nhưng ý nghĩa chính là: Đứa con này là đứa con yêu, đứa con quý (như tiền bạc) vậy.
Khi thành lập đội Nhi đồng cứu quốc, anh Đức Thanh, bí thư thanh niên, ngươi phụ trách đội đã đặt tên cách mạng cho từng người. Nông Văn Dèn, đội trưởng được đặt tên là Kim Đồng, Đồng chỉ những em nhỏ (dưới 15 tuổi). Kim là vàng, là mới, là đẹp. Hiểu theo ngữ nghĩa thì Kim Đồng là một thiếu niên nhỏ tuổi, đẹp xinh, sáng lạng. Tên Kim Đồng được lấy từ tích trong đạo Giáo (Lào). Kim Đồng (nam) - Ngọc Nữ (nữ) là những thiếu niên nam, nữ xinh đẹp, thông minh, sáng sủa theo hầu, phục vụ các vị Tiên (có thể có một liên tưởng xa: Kim Đồng đã được gặp, được phục vụ Tiên ông - Bác Hồ trên hang Nục Én.
Nông Văn Thàn, người đội viên thứ nhất được đạt tên là Cao Sơn. Thàn là một loại cây dẻo dai thường mọc ở chân vách núi đá, Cao là thanh cao, Sơn la ngọn núi: Cao Sơn: Người có đức hạnh như ngọn núi cao. Tên Cao Sơn được "lấy" ra từ 2 điệu hát Then đặc sắc của người Tày là điệu Cao Sơn và điệu Lưu Thủy (Tàng Bốc, Tàng Nặm).
Người đội viên thứ hai có tên là Lý Thị Xạu (ở đây tôi cũng xin được cải chính: Xạu chứ không phải Xậu như sách vở thường ghi - lỗi này cũng do người ghi sai, đã "đội mũ" cho chữ Xạu - Xậu; cũng như đã từng "đội mũ" cho chữ Dèn = Dền). Tiếng Tày, Nùng Xậu chỉ cái lông vịt, ít ai đặt tên con như vậy! Còn Xạu nghĩa là buổi sáng (trong lành), là buổi bình minh. Đẹp biết bao, tươi biết bao. Lý Thị Xạu có tên cách mạng là Thanh Thủy là làn nước trong xanh, tinh khiết.
Lý Thị Nì là người đội viên thứ ba. Lý Thị Nì có tên cách mạng là Thuỷ Tiên: Thuỷ Tiên là một thứ cây nhỏ có củ, như củ hành, hoa màu vàng, thứ hoa dùng chơi trong mùa xuân.
Người đội viên thứ tư là Lý Văn Tinh, có tên cách mạng là Thanh Minh: trong sáng. Thứ năm là Triệu Văn Hùng, bí danh là Quế Lâm: Rừng quế.
Ở đây cần xác định lại để sách vở "trùng"với thực tế. Buổi thành lập đội Nhi đồng cứu quốc ở Pò Đoi - Thoong Mạ chỉ có 4 người là: Kim Đồng - Cao Sơn - Thanh Thủy - Thủy Tiên, mấy ngày sau kết nạp thêm Thanh Minh. Hai tháng sau nữa, Quế lâm mới được kết nạp. Sách vở có lúc nói là 4 người, 5 người, 6 người là như vậy. Lâu nay, nói đến đội Nhi đồng cứu quốc, rất ít khi nhắc đến những người phụ trách đội như các anh Đức Thanh, Thế An, Thụy Hùng...
Đức Thanh tên thật là Đàm Minh Viễn, quê bản Nà Nghiêng, xã Sóc Hà, huyện Hà Quảng là người được học chữ từ nhỏ, tham gia cách mạng từ sớm. Năm 1940, vượt biển sang Trung Quốc hoạt động, là một trong bốn mươi "con đại bàng trong bão táp cách mạng" được Bác Hồ rèn luyện, tin tưởng và yêu quý. Anh là một trong 12 đội viên đội du kích Pác Bó do Bác Hồ thành lập và huấn luyện tháng 11/1941, là một trong năm ủy viên Ban chấp hành Châu ủy Hà Quảng, là Ủy viên Ban Việt Minh châu Hà Quảng, đặc trách công tác thanh niên, nhi đồng cứu quốc. Trong thời gian họp Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 tại Khuổi Nặm ( từ ngày mùng 10 đến 19/5/1941). Đức Thanh được giao tổ chức và chỉ huy lực lượng cách mạng bảo vệ vòng ngoài, đã hoàn thành thành nhiệm vụ xuất sắc, đảm bảo tuyệt đối an toàn cho hội nghị và hơn thế còn lập ra đội Nhi đồng cứu quốc, giữa những ngày Bác Hồ và các đồng chí Trung ương Đảng đang họp. Năm 1945, Đức Thanh tham gia lãnh đạo cướp chính quyền ở Hà Quảng và tỉnh Cao Bằng rồi chuyển xuống Lạng Sơn làm Bí thư Tỉnh ủy. Năm 1946, Bác Hồ giao cho chỉ huy một đội Nam Tiến. Trên đường hành quân chiến đấu, anh đã anh dũng hy sinh trên cương vị Sư đoàn trưởng (Người em trai của anh Đức Thanh là Thượng tướng Đàm Quang Trung, một vị tướng tài của Quân đội nhân dân Việt Nam, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước (Phó Chủ tịch nước) Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam).
Anh Thế An (tên thật là Hoàng Thế Hậu), quê xã Đào Ngạn, Hà Quảng bảo vệ Bác Hồ về nước ngày 28/1/1941 (cùng các đồng chí Phùng Chí Kiên, Lê Quảng Ba, Hoàng Văn Lộc, Đặng Văn Cáp). Thế An là một trong 34 chiến sĩ trong Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân thành lập ngày 22/12/1944 tại khu rừng Trần Hưng Đạo (huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng).
Những người phụ trách khác đã có những đóng góp trong việc xây dựng, tổ chức, chỉ đạo đội Nhi đồng cứu quốc như Thụy Hùng, Nhật Sơn (Nông Văn Cai), Ngư Mạn (La Văn Cao), Bát Ngư (La Văn Chấn)... đều là những người con sinh ra tại Hà Quảng.
GIA ĐÌNH KIM ĐỒNG
Bố Kim Đồng, người làng Nà Mạ, tên là Nông Văn Ý. Trong một lần sang quê vợ ở làng Kép Ké (Nà Sác) bị nạn, chết không xác định được nguyên nhân chính xác.
Mẹ Kim Đồng tên là Lân Thị Hò, quê làng Kép Ké, sinh năm 1890. Bà là một phụ nữ chăm chỉ, hết lòng vì chồng con, giỏi nghề dệt và làm giấy bản (chỉa sla), là hội viên Hội phụ nữ cứu quốc: Sức khỏe bà yếu (bị bệnh khớp) nên từ nhỏ Kim Đồng đã làm nhiều việc của người lớn, điều đó sớm hình thành trong Kim Đồng những tính cách của "người lớn": Quyết đoán, năng động, không ngại khó...
Kim Đồng có 2 chị gái, một anh trai và một em gái. Chị gái cả tên là Nông Thi Nhằm (Nhằm, tiếng Tày, Nùng là Mong nhớ). Lấy chồng trong làng tên là Lý Văn Kinh thường được gọi là Kinh Xình, nhà anh Kinh Xình là nơi hội họp, đón tiếp, bảo vệ cán bộ cách mạng. Trong ngôi nhà này, ngày 14/2/1943, lãnh đạo chủ chốt Châu uỷ Hà Quảng họp, nhờ hành động dũng cảm của Kim Đồng mà thoát cả lên núi phía sau nhà. Chị gái thứ hai là Nông Thị Lằng cũng lấy chồng trong làng. Anh trai là Nông Văn Tằng (bí danh là Phục Quốc) sớm tham gia cách mạng, là đội viên giải phóng quân, chiến đấu và hy sinh ở Chợ Đồn (Bắc Kạn). Để anh Phục Quốc có điều kiện hoạt động cách mạng, 12 tuổi, Kim Đồng đã thay anh đi phu, chặt cây, trồng cỏ ở đồn Sóc Giang. Em gái là Nông Thị Slấn (Slấn tiếng Tày, Nùng có nghĩa là tin tưởng), xinh đẹp, chăm chỉ. Một lần qua suối, không may trượt chân ngã, chết đuối.
MỘT SỐ THÀNH TÍCH, CHIẾN CÔNG CHÍNH CỦA KIM ĐỒNG
Nhiệm vụ chính của đội Nhi đồng cứu quốc là canh gác, bảo vệ cán bộ làm liên lạc, đưa đón cán bộ. Kim Đồng với vai trò đội trưởng đã "tự nhận" những việc khó về mình. Những chuyến đưa thư, chuyển tài liệu, đưa đón cán bộ rất nhiều. Chỉ xin ghi lại 3 thành tích nổi bật.
Thành tích thứ nhất: Giữa tháng 8/1942 (khoảng ngày 15). Bác Hồ từ Lam Sơn về Pác Bó để đi Trung Quốc công tác (có Phù Slấn dẫn đường). Bác Hồ đóng giả làm một thầy cúng già tai điếc, bẩn, nhếch nhác qua thoát trạm gác ngã ba Đôn Chương. Đến làng Nà Mạ, chưa đi tiếp được về Pác Bó vì lúc đó ở Kéo Già (cách Nà Mạ chừng 3km) có một vụ án mạng đang được khám nghiệm, điều tra. Bác Hồ lên trú tại hang Nục Én. Hôm sau, các anh phụ trách đưa Kim Đồng lên hang gặp Bác Hồ, Kim Đồng đã nhận nhiệm vụ đi trước đưa Bác Hồ an toàn lên Pác Bó.
Thành tích thứ hai: Ngày 14/2/1943 nhận nhiệm vụ đưa tài liệu về Đào Ngạn (cách Nà Mạ chừng 10km): Giao xong tài liệu. Kim Đồng có thể đi chơi hội Sóc Giang, nhưng em đã xung phong đưa đồng chí Vũ Anh (bí danh Trịnh Đông Hải), ủy viên Trung ương Đảng, một trong những đại biểu dự hội nghị Trung ương 8 tại Khuổi Nặm. Tháng 5/1941 về Pác Bó an toàn. Trên quãng đường hơn 15km từ Đào Ngạn về Pác Bó, dù đi đêm, luồn rừng, vượt đèo, giữa đường có thể gặp thổ phỉ, thú dữ... nhưng Kim Đồng không một lời kêu ca, không một chút biểu hiện nản lòng. Đồng chí Vũ Anh rất cảm kích tấm lòng người đội viên nhỏ tuổi. Đến Pác Bó, trời chưa sáng, tuy rất mệt nhưng Kim Đồng không nghỉ mà vội quay về Nà Mạ ngay.
Thành tích thứ ba: Mờ sáng, về gần đến nhà anh Kinh Xình, thấy bọn lính từ xa, với sự thông minh, nhạy bén, Kim Đồng biết là bọn địch đang vây bắt cán bộ, em đã nhanh trí, dũng cảm đánh động, đánh lạc hướng chúng. Bọn địch đã nổ súng. Kim Đồng ngã xuống bên kia bờ suối. Nhờ tiếng súng mà các anh đang họp trong nhà Kinh Xình thoát kịp lên núi. Họp tại nhà Kinh Xình hôm ấy gần 20 người, là những cán bộ chủ chốt của Châu ủy Hà Quảng, Ban Việt Minh Hà Quảng. Có các đồng chí: Lê Quảng Ba, Đội trưởng đội du kích Pác Bó, người dẫn đường Bác Hồ về nước ngày 28/1/1941. Người đưa đường Bác Hồ sang Trung Quốc tháng 8/1942, sau này là Thiếu tướng Quân đội nhân dân Việt Nam, Chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc Trung ương, đồng chí Cao Hồng Lãnh, người cộng sự thân thiết của Bác Hồ, quê Hội An, Quảng Nam, các đồng chí Đức Thanh, Thế An, Nhất Sơn, Qúi Hiệu, Bát Ngư, Ngư Mạn... Nhìn vào danh sách này ta càng thấy chiến công mà Kim Đồng lập được lớn hơn ta từng biết rất nhiều.
Kim Đồng hy sinh rạng sáng ngày 15/2/1943 (lúc 5 giờ)... Đó là ngày giỗ anh. Kế hoạch vây bắt cán bộ cách mạng đúng vào lúc chuẩn bị "cất vó" bị thất bại bởi Kim Đồng, nên bọn địch tức tối, cay cú, định chặt đầu Kim Đồng, đem bêu ở nơi đông người nhưng một số lính trong toán lính vây bắt hôm đó, cảm phục tinh thần quả cảm của người thiếu niên làng Nà Mạ đã ngăn lại. Chiều tối, các anh, chị Kim Đồng, các đồng chí cán bộ, dân làng Nà Mạ đưa thi hài Kim Đồng lên mai táng ở chân núi Tèo Lài.
HÌNH ẢNH KIM ĐỒNG TRONG ĐỜI THỰC
Nói tới Kim Đồng, là hiện về hình ảnh người thiếu niên người Nùng, mặc quần áo chàm, đầu đội mũ nồi vải chàm, trên vai vác chiếc cần câu cá, một tay cầm chiếc lồng chim, trong có một con sáo nhỏ (hay con sáo nhỏ đậu trên bàn tay). Đó là những vật dụng có thật của Kim Đồng, nhưng đó không chỉ là vật dụng mà nói một cách hình tượng đó là những “đạo cụ” để Kim Đồng thực hiện những cảnh diễn của mình.
Làng Nà Mạ có con suối Lê-nin chảy qua, có rất nhiều cá như cá Liềng, cá Pất, cá Dầm xanh… Kim Đồng đã từng ra câu thật, đem về nhà, nhưng không ít lần Kim Đồng đã câu giả, trong những lần làm nhiệm vụ canh gác, Kim Đồng móc sẵn vào lưỡi câu một con cá, rồi thả câu. Ngồi bên bờ, Kim Đồng quan sát xung quanh, nếu thấy người và hiện tượng khả nghi, Kim Đồng giật con cá lên, hét to vẻ sung sướng. Nhận được “ ám hiệu”, thông tin đó được truyền nhanh chóng qua “đường dây” của các đội viên Nhi đồng cứu quốc. Những người họp nhanh chóng hủy tài liệu, tìm cách đối phó, hoặc thoát lên rừng… chiếc cần câu trúc của Kim Đồng được “chế tạo” rất khéo, ở gốc và ngọn cần câu là những đốt trúc rỗng tháo lắp được, để dấu thư bí mật, chiếc lồng chim cũng có những chỗ có thể dấu thư được. Những “đạo cụ” này chủ yếu là làm cho những kẻ tình nghi nghĩ là Kim Đồng đang đi bẫy chim chứ không hề nghĩ Kim Đồng đang làm nhiệm vụ đưa thư, chuyển tài liệu bí mật. Lồng chim và con sáo nhỏ cũng là “đạo cụ” để Kim Đồng thoát trong những tình huống nguy hiểm bất ngờ xảy ra: Có thể mở cửa lồng cho con sáo bay đi mà làm mình, làm mẩy, bắt đền, ăn vạ bọn lính gác để các cán bộ kịp thời tránh…
Chiếc mũ nồi của Kim Đồng có 2 lớp lót bên trong là nơi dấu thư, dấu tài liệu với độ an toàn cao.
KHU DI TÍCH LỊCH SỬ KIM ĐỒNG

Mộ Kim Đồng - Ảnh www.caobangpro.com
Ngày nay du khách lên thăm khu di tích lịch sử Pác Bó qua khỏi ngã ba Đôn Chương đến làng Nà Mạ, nhìn về phía tay trái, dưới chân núi Tèo Lài khu di tích Kim Đồng hiện ra trong dáng vẻ khiêm nhường. Khu di tích được xây dựng năm 1991 đúng kỷ niệm 50 năm Ngày thành lập đội Nhi đồng cứu quốc (tiền thân của Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh).
Du khách xuống xe bước trên con đường bê tông phẳng, qua khỏi chiếc cầu nhỏ có mái che, toàn bộ khuôn viên khu di tích thu gọn trong tầm mắt. Qua khỏi cổng khuôn viên, bước lên những bậc thềm cao, đến trước bức tượng người thiếu niên anh hùng thắp nén hương tưởng nhớ chiến công của anh và các đội viên đội Nhi đồng cứu quốc, nhớ về một thời cách mạng hào hùng dưới sự lãnh đạo của Bác Hồ vĩ đại và Đảng quang vinh. Tin tưởng mạnh bước đi trên con đường xây dựng đất nước giàu đẹp mà Bác Hồ đã chọn.
Khu di tích Kim Đồng nằm trong tổng thể khu di tích Pác Bó. Nhìn theo hướng nhìn của bức tượng, phía trái có tảng đá to, trên đó có hai cây nghiến xum xuê cành lá, mọc lên sau ngày mai táng Kim Đồng. Cây nghiến là loại cây quý, thường mọc trên đỉnh núi cao, lá tròn, dầy, xanh tươi quanh năm là biểu tượng của sự cứng cáp, cao thượng. Cây nghiến đó chính là hình ảnh, tấm lòng của người trai miền núi, là hình ảnh của Kim Đồng, sống mãi cùng non sông đất nước. Ở phía bên phải là mộ mẹ Kim Đồng, bà Lân Thị Hò. Bản thiết kế khu di tích và bức tượng Kim Đồng là tác phẩm của họa sĩ Nguyễn Hải thuộc Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội, với nét tươi trẻ, mềm mại, gần gũi: Chạy ngang 2 bên bức tượng Kim Đồng mỗi bên dựng 7 phiến bê tông. 2 bên phía trước theo chiều dọc mỗi bên cũng dựng 7 phiến bê tông khối hình chữ nhật đặt nghiêng, 2 bên cổng ra vào, sát bờ rào, mỗi bên trồng 7 cây bạch đàn… có điều gì bí ẩn ở con số 7 mà cứ lặp đi lặp lại như thế? Hãy làm phép tính cộng hết sức đơn giản: 7 + 7 = 14 và một phép tính trừ cũng đơn giản 1943 - 1929 = 14. Con số 14 là số tuổi của liệt sĩ Kim Đồng khi hy sinh. Năm ngoái (2009) kỷ niệm lần thứ 80 Ngày sinh Kim Đồng, rồi 100 năm ngày sinh, 1000 năm ngày sinh… thì Kim Đồng vẫn mãi là anh hùng Kim Đồng – Người thiếu niên dũng cảm làng Nà Mạ đã hiến dâng cuộc đời của mình cho cách mạng, cho Tổ quốc ở tuổi 14 – lứa tuổi thần tiên. Tên anh gắn với lịch sử cách mạng, lịch sử đất nước, lịch sử Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh.
Hoàng Quảng Uyên
Comments (0)
Subscribe to this comment's feedWrite comment
| < Prev | Next > |
|---|
- 10/10/2010 16:18 - Đi trẩy nước non Cao Bằng
- 27/09/2010 07:05 - Phố cắt tóc ở Cao Bằng
- 22/09/2010 17:21 - Khoa cử Triều Mạc ở Cao Bằng
- 10/09/2010 12:48 - Nhà Mạc chiếm cứ đất Cao Bằng năm nào?
- 28/08/2010 14:03 - Hệ thống chợ tỉnh Cao Bằng
- 28/08/2010 11:16 - Tổng hợp nhiều lĩnh vực tỉnh Cao Bằng
- 27/08/2010 23:34 - Thị xã Cao Bằng đẹp: nhờ cây xanh
- 27/08/2010 11:36 - Các Bí thư và Chủ tịch UBND tỉnh
- 09/08/2010 14:21 - Sơn thủy Cao Bằng
- 05/07/2010 09:24 - Thầy Tào
- 21/05/2010 15:00 - Hà Quảng vang mãi lời ca nhớ ơn Người
- 28/04/2010 16:12 - Lễ cưới truyền thống của người Dao đỏ
- 28/04/2010 15:30 - Nhà thơ Trúc Thông với "Cao Bằng"
- 25/04/2010 19:45 - Tết của Người H'mong
- 24/04/2010 13:11 - Người Tày với tín ngưỡng thờ mẹ
- 22/04/2010 13:54 - Đêm tân hôn của người Tày
- 22/04/2010 07:34 - Bản Pác Rằng - Nét đặc sắc riêng
- 22/04/2010 07:24 - Sưu tầm dân ca và dân vũ Dao đỏ
- 21/04/2010 17:40 - Pang: Một phong tục đẹp
- 21/04/2010 17:30 - Nghề Then của người Nùng


















