Share |

Trường Quốc học Bản Thảnh ở Cao Bình

Từ năm 1527 đến năm 1592 trải qua năm đời vua nhà Mạc ở Thăng Long. Để phục hưng đất nước nhà Mạc lo củng cố tổ chức chính quyền, quân đội, kinh tế, văn hóa và giáo dục. Sự nghiệp giáo dục được quan tâm đúng mức để tuyển chọn những người tài trí phục vụ cho sự bền vững của Vương nghiệp.

Sau hai năm cầm quyền nhà Mạc tổ chức các khóa thi tiến sĩ. Năm Kỷ Sửu (1529) niên hiệu Minh Đức đời Mạc Thái Tổ - Mạc Đăng Dung, đệ nhất giáp đỗ 3 tiến sĩ, đệ nhị giáp đỗ 8 tiến sĩ, đệ tam giáp đỗ 15 tiến sĩ. Bia tiến sĩ còn tại Văn miếu Quốc tử giám Hà Nội. Nhà Mạc tổ chức khoa thi cứ 3 năm 1 lần. Tổng cộng có 22 khóa thi đỗ tiến sĩ 485 trong đó có 11 trạng nguyên. Có trạng nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm (Trạng Trình) là nhà văn hóa lớn của dân tộc, là cây đại thụ về chữ Nôm thế kỷ XVI nhà tư tưởng “lấy dân làm gốc” còn có giá trị đến ngày nay, khoa thi cuối cùng vào năm Nhâm Thìn (1592) niên hiệu Hồng Ninh thứ 2 đời vua Mạc Mậu Hợp.

Văn Miếu Quốc Tử Giám

Cuộc tranh giành quyền lực Lê - Mạc dẫn đến nhà Mạc thất thế - năm 1594 con trai Mạc Mậu Hợp là Mạc Kỉnh Cung chạy lên Cao Bằng xây thành đắp lũy chống nhà Lê. Mạc Kính Cung chọn Cao Bình ( xã Hưng Đạo, huyện Hòa An ) làm kinh đô, xưng hiệu là Càn Thống. Mạc Kính Cung lo việc phòng thủ, lo việc an dân, lo mở trường Quốc học để đào tạo nhân tài nhằm đặt đế nghiệp lâu dài, khi thời cơ đến sẽ lấy lại Thăng Long, thu phục cả nước thuở mơi khai sinh Mạc triều.

Bản Thảnh là nơi xây dựng trường Quốc học Bản Chảnh, tên Bản Thảnh là nơi thờ đức thánh Khổng Tử, bậc hiền triết của nho giáo, như Văn Miếu Quốc tử giám ở Hà Nội mở trường Quốc học cho cả nước. Dân địa phương gọi thánh là Thảnh. Hiện nay đã khảo sát trường thuộc địa điểm xóm 3 Hồng Quang, xã Bế Triều, huyện Hòa An. Phía Đông giáp chùa Đồng Lân, phía Tây giáp sông Bằng Giang, phía Nam giáp phố Cao Bình – Bản Phủ nơi thiết triều nhà Mạc gọi là Vương phủ, phía Bắc giáp bản Nà Vài, xã Bế Triều. Trường có diện tích khoảng 253.958 m2 trên nền đất đồi bằng phẳng gần nhà ông Sầm Ngọc Thân cư trú tại Bản Thảnh.

Hiện còn một giếng nước trong ở cạnh đường vào Bản Nà Vài giếng đã tồn tại trên 300 năm, dân làng vẫn dùng nước giếng này. Không có dấu vết tường xây bằng gạch, có thể bằng cột gỗ tranh tre, nứa lá.

Trường mở năm 1595 sau 1 năm Mạc Kính Cung xưng vương (1594). Đến năm 1677 nhà Lê chiếm được Cao Bình trường mới giải tán. Căn cứ vào Bà Cấp dưỡng của trường quê xã Nam Mẫu – Ba Bể - Bắc Cạn khi nhà Lê chiếm Cao Bình bà đã đưa con gái mình cùng công chúa Mạc Thị Tuyết Lan con gái cả vua Mạc Kính Vũ lúc đó mới 13 tuổi, vì mải chơi ở trường quốc học không kịp theo cha mẹ chạy lên Lũng Hoàng ở dãy núi đá (Lam Sơn) nên bà đưa 2 chị em chạy về Nam Mẫu – Ba Bể đến năm công chúa 17 tuổi biết tin cha ở Phục Hòa mới về Phục Hòa tìm cha. Trường tồn tại 82 năm. Nhà Mạc quy định cứ 3 năm tổ chức thi hương, thi hội, thi đình một lần. Thi hội vào những năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi khoa thi đầu tiên 1595 tổ chức thi ngay vì bộ khung có giáo sư, giám khảo và các thí sinh từ Quốc tử giám Thăng long còn nguyên vẹn. Khi ở Thăng Long nhà Mạc chạy khỏi kinh thành vào năm Ất Mùi còn tổ chức thi ở Bến Thảo Tân. Rồi mới lên Cao Bằng tổ chức khóa 2 năm Mậu Tuất (1598) có ông Bế Văn Phùng quê ở Bản Vạn – Hòa An đỗ tiến sĩ ra làm quan Tư Thiên Quản Nhạc khóa 3 năm Tân Sửu (1601), khóa 4 năm Giáp Thìn (1610), khóa 7 năm Quý Sửu (1613), khóa 8 năm Bính Thìn (1616), khóa này Bà Nguyễn Thị Duệ quê ở Hải Dương đỗ tiến sĩ là nữ tiến sĩ đầu tiên của nước ta, khóa 9 năm Kỷ Mùi (1619), khóa 10 năm Nhâm Tuất (1622), Sử thi chép đến khóa này vì xẩy ra quân Lê Trịnh cử Trịnh Kiều (1624) lên bắt được Kính Cung, Bà Duệ trốn vào Hạ Lang năm Giáp Tý. Khóa cuối cùng vào năm 1631 thời Mạc Kính Khoan (1625 – 1638) Kính Khoan mất vẫn làm vua cai quản xứ Cao Bằng. Vì vậy trường Quốc học vẫn học nhưng không công khai. Có sách nói trường mở được 22 khóa nhưng không ghi từng khóa đỗ đạt bao nhiêu. Trường vẫn tồn tại tới thời vua Mạc Kính Vũ Thân Đức Hoàng Đế (1638 – 1677) Trường Quốc học Bản Thảnh đã đào tạo được nhiều nhân tài, các môn sinh ra trường được trọng dụng, bổ sung vào các cấp chính quyền nhà Mạc, một số môn sinh tỏa ra các vùng nông thôn dậy học chữ Hán, chữ Nôm nhờ đó nhân dân nhiều người biết chữ lại phát triển chữ nôm tày được dùng rộng rãi trong sổ sách và sáng tác thơ nôm tày.

Nổi lên có ông Bế Văn Phùng quê bản Vạn châu Thạch Lâm ra làm quan Tư Thiên quản nhạc ông sáng tác nhiều thơ văn như Tam nguyên  luận, Trung nguyên luận, Thượng nguyên tuần, sách giáo nam, giáo nữ…ông là bạn tâm giao với ông Nông Quỳnh Văn ở Nga Ổ Thượng Lang. Cải biên các điệu hát then, diễn xương trong cung đình vua Mạc với nhiều làn điệu như Cao Sơn, Lưu Thủy,  Dã bạn làn điệu nhịp nhàng với cây đàn tính êm dịu. Ông Bế Văn Noọng tức Nông Quỳnh Văn quê ở xã Chí Viễn huyện Trùng Khánh sáng tác nhiều bài thơ hay như bài Tứ quý hồng nhan ông theo học trường Bản Thảnh, ông bỏ học vì cha bị bệnh mất.

Nổi lên còn có bà Nguyễn Thị Duệ giả làm Nam để được đi học. Bà 20 tuổi đỗ tiến sĩ đầu bảng ở trường Bản Thảnh. Bà quê làng Kiệt Đặc huyện Chí Linh tỉnh Hải  Dương theo cha lên Cao Bằng theo nhà Mạc, khóa 8, Chị Duệ đỗ đầu bảng, còn thày dạy bà Duệ họ Cao đỗ thứ 2. Thày dạy bà Duệ thốt lên “ Mầu xanh vốn từ màu lam mà ra, nhưng lại xanh hơn lam” bà Duệ là nữ tiến sĩ đầu tiên của nước ta: Năm 1625 bà 29 tuổi chạy trốn nhà Lê và đi tu ở chùa Sàng Phúc, châu Hạ Lang. Bà trông nom, tu sửa chùa mở lớp dạy học và giảng về hình phật. Để tưởng nhớ công đức bà. Nhân dân Hạ Lang đặt tên bà cho một bản là Huyền Ru (Bí danh bà là Diệu Huyền tên húy là Ru. Bà còn được nhân dân thờ lúc còn sống, gọi bà là Vi Đồ (vi là hàn vi, đồ là thày dạy học) bây giờ trong chùa Sùng Phúc còn có bệ, bát hương thờ bà. Vua Khải Định có sắc phong  năm thứ 9 tháng 12 ngày 25: sắc chỉ Cao Bằng tỉnh, Hạ Lang châu, vĩnh thọ lệnh cấm phong đăng ba xã nỗi gót đời xưa thờ phụng  sự trong sáng thiên thần. Huyền Ru đã tôn là thần trong sáng chính đại, Diệu Huyền là trung đẳng thần bảo vệ tổ quốc nhân dân bình yên cho nên đã tạo cho nhân dân tham vọng thờ cúng qua 4 lần mở lễ đèn rồng, hội thảo công ơn phong tặng thượng đẳng thần vì đã có công phục quốc, nay phong sắc ghi tác khi bề thăng long năm Tân Mùi (1631) Bà được phong chức “Lễ Thi” Bà được tôn vinh danh nhân thế kỷ XVII.

Bảo tàng tỉnh Hải Dương và xã  Kiệt Đặc quê hương Bà có tháp tình phi, thờ Bà có pho tượng Bà gọi là vua Bà thú tượng Nguyễn Thị Duệ có sắc phong thời Nguyễn với nội dung:

Xã Kiệt Đặc huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương thờ phụng chánh vương phủ thị nội cung tần Lễ sư Nguyễn Thị Ngọc Tôn thần người có công giúp nước che chở cho dân, rất linh ứng từ xưa, nay chính vị trẫm mừng tuổi 40, liền ra bảo chiếu, kịp ban ơn, nhân lễ trọng thăng trât, phong làm Tề Lĩnh, dục báo trung húng, trung đẳng thần, chuẩn theo mà thờ cúng. Thần sẽ bảo trợ cho lê dân kính thầy!
Ngày 25 tháng 7 năm Khải Định thứ 9 (1924)

Bảo tàng tỉnh Hải Dương đang định lập bia di tích trường Quốc học Bản Thảnh để ghi nơi Bà Duệ đỗ tiến sĩ ở Cao Bằng.

Nguyễn Xuân Toàn (www.caobang.gov.vn)

Comments (0)

Subscribe to this comment's feed

Write comment

smaller | bigger

busy

Tin mới hơn:
Tin cũ hơn: