Share |

Những điều bạn chưa biết về đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân

DANH SÁCH 34 CHIẾN SĨ

DỰ BUỔI LỄ THÀNH LẬP ĐỘI VIỆT NAM TUYÊN TRUYỀN GIẢI PHÓNG QUÂN NGÀY 22-12-1944

Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam, thành lập ngày 22 tháng 12 năm 1944 tại khu rừng Trần Hưng Đạo, xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng.

Quân số ban đầu gồm 34 người (có 3 nữ), chia thành 3 tiểu đội. Võ Nguyên Giáp chỉ huy chung, Hoàng Sâm được chọn làm đội trưởng, Xích Thắng, tức Dương Mạc Thạch, làm chính trị viên, Hoàng Văn Thái phụ trách tình báo và kế hoạch tác chiến, Lâm Cẩm Như, tức Lâm Kính, phụ trách công tác chính trị, Lộc Văn Lùng tức Văn Tiên làm quản lý. Vũ khí có 2 súng thập (một loại súng ngắn), 17 súng trường, 14 súng kíp.

Lễ thành lập đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân

Trong "Chỉ thị thành lập đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân" do Nguyễn Ái Quốc soạn có ghi:

1. Tên: Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự...

2. Đối với các đội vũ trang địa phương: đưa các cán bộ địa phương về huấn luyện, tung các cán bộ đã huấn luyện đi các địa phương, trao đổi kinh nghiệm...

3. Về chiến thuật: vận dụng lối đánh du kích, bí mật, nhanh chóng, tích cực, nay đông mai tây, lai vô ảnh, khứ vô hình.

Cuối cùng Nguyễn Ái Quốc khẳng định: "Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam".

Sau khi thành lập đội đã đánh thắng hai trận đầu tiên ở Phai Khắt và Nà Ngần (Cao Bằng). Sau 2 trận này, quân số tăng lên thành đại đội, Hoàng Sâm làm đại đội trưởng, còn Xích Thắng làm chính trị viên.

Đội đã tạo ra một khu vực có cơ sở cách mạng rộng lớn ở Hòa An, Nguyên Bình (Cao Bằng), Ngân Sơn, Chợ Rã (Bắc Cạn)...

Sau khi Nhật đảo chính Pháp ngày 9 tháng 3 năm 1945, Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân chia thành nhiều mũi, có mũi thọc xuống phía nam đánh chiếm Ngân Sơn, Chợ Rã, Phủ Thông, Chợ Đồn, Na Rì (Bắc Cạn), Chiêm Hóa (Tuyên Quang), có mũi tiến công Thất Khê, Bình Gia (Lạng Sơn), lại có mũi ngược lên biên giới Việt - Trung hạ một loạt đồn trại từ Trùng Khánh đến Bảo Lạc rồi phát triển sang phía Hà Giang. Cuối tháng 3, đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã gặp Cứu quốc quân ở Chợ Chu (Thái Nguyên).

Ngày 15 tháng 5 năm 1945, tại Chợ Chu, Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân hợp nhất với Cứu quốc quân và một số đơn vị du kích thành lực lượng quân sự thống nhất, lấy tên là Việt Nam giải phóng quân.

Danh sách 34 chiến sỹ

1. Trần Văn Kỳ (Hoàng Sâm, Trần Sơn Hùng)

Dân tộc: Kinh

Quê quán: Lệ Sơn, Tuyên Hóa, Quảng Bình;

Đội trưởng, Liệt sĩ

2. Dương Mạc Thạch (Cam) (Xích Thắng)

Dân tộc: Tày

Quê quán: Minh Tâm, Nguyên Bình, Cao Bằng

Chính trị viên

3. Hoàng Văn Xiêm (Hoàng Văn Thái, Ngô Quốc Bình)

Dân tộc: Kinh

Quê quán: An Khang, Tiến Hải, Thái Bình

Tình báo KH - TC

4. Hoàng Thế An (Thế Hậu);

Dân tộc: Tày;

Quê quán: Đào Ngạn, Hà Quảng, Cao Bằng

5. Bế Bằng (Kim Anh)

Dân tộc: Tày

Quê quán: Hồng Việt, Hòa An, Cao Bằng

6. Nông Văn Bát (tự Tịch) (Đàm Quốc Chủng)

Dân tộc: Tày

Quê quán: Bình Long, Hòa An, Cao Bằng

7. Bế Văn Bồn (Bế Văn Sắt, Hồng Quân, Mậu)

Dân tộc: Tày

Quê quán: Bình Long, Hòa An, Cao Bằng

8. Tô Văn Cắm (Tiến Lực, Đình Lực)

Dân tộc: Tày

Quê quán: Tam Kim, Nguyên Bình, Cao Bằng

9. Nguyễn Văn Càng (Thu Sơn)

Dân tộc: Tày

Quê quán: Hồng Việt, Hòa An, Cao Bằng

10. Nguyễn Văn Cơ (Đức Cường)

Dân tộc: Kinh

Quê quán: Đề Thám, Hòa An, Cao Bằng

11. Trương Văn Cù (Trương Đắc, Đồng)

Dân tộc: Tày

Quê quán: Minh Tâm, Nguyên Bình, Cao Bằng

12. Hoàng Văn Củn (Quyền, Thịnh)

Dân tộc: Tày

Quê quán: Tràng Xá, Võ Nhai, Thái Nguyên

13. Võ Văn Dảnh (Luận)

Dân tộc: Kinh

Quê quán: Đức Hóa, Tuyên Hóa, Quảng Bình

14. Tô Vũ Dâu (Thịnh Nguyên)

Dân tộc: Tày

Quê quán: Vĩnh Quang, Hòa An, Cao Bằng

15. Dương Văn Dấu (Đại Long)

Dân tộc: Nùng

Quê quán: Trường Hà, Hà Quảng, Cao Bằng

16. Chu Văn Đế (Nam)

Dân tộc: Tày

Quê quán: Minh Tâm, Nguyên Bình, Cao Bằng

17. Nông Văn Kiếm (Liên);

Dân tộc: Tày

Quê quán: Tam Kim, Nguyên Bình, Cao Bằng;

Liệt sĩ 

18. Đinh Văn Kính (Đinh Trung Lương);

Dân tộc: Tày

Quê quán: Lê Lợi, Thạch An, Cao Bằng

19. Hà Hưng Long

Dân tộc: Tày

Quê quán: Nam Tuấn, Hòa An, Cao Bằng

20. Lộc Vãn Lùng (Văn Tiên)

Dân tộc: Tày

Quê quán: Mai Pha, Cao Lộc, Lạng Sơn

Quản lý   

21. Hoàng Văn Lường (Kính Phát)

Dân tộc: Nùng

Quê quán: Đức Vân, Ngân Sơn, Bắc Cạn

22. Hầu A Lý (Hồng Cô)

Dân tộc: Mông

Quê quán: Minh Tâm, Nguyên Bình, Cao Bằng

23. Long Văn Mần (Ngọc Trình)

Dân tộc: Nùng

Quê quán: Bình Long, Hòa An, Cao Bằng

Liệt sĩ

24. Bế Ích Nhân (Bế Ích Vạn)

Dân tộc: Tày

Quê quán: Vân Tùng, Ngân Sơn, Bắc Cạn

25. Lâm Cầm Như (Lâm Kính)

Dân tộc: Kinh

Quê quán: Đông Khé, Thạch An, Cao Bằng

Công tác chính trị

26. Hoàng Văn Nhủng (Xuân Trường)

Dân tộc: Tày

Quê quán; Sóc Hà, Hà Quảng, Cao Bằng

Liệt sĩ

27. Hoàng Văn Ninh (Thái Sơn)

Dân tộc: Nùng;

Quê quán: Thượng Án, Ngân Sơn, Bắc Cạn

28. Giáp Ngọc Páng (Thân, Nông Văn Bê)

Dân tộc: Nùng

Quê quán: Hoàng Tung. Hoà An, Cao Bằng

Liệt sĩ 

29. Nguyễn Văn Phán (Kế Hoạch)

Dân tộc: Tày

Quê quán: Hồng Việt, Hòa An, Cao Bằng

30. Ma Văn Phiêu (Mạc Văn Phiêu, Bắc Hợp, Đường)

Dân tộc: Tày

Quê quán: Minh Tâm, Nguyên Bình, Cao Bằng

Liệt sĩ 

31. Đặng Tuần Quý

Dân tộc: Dao

Quê quán: Tam Kim, Nguyên Bình, Cao Bằng

32. Lương Quý Sâm (Lương Văn Ích)

Dân tộc: Nùng

Quê quán: Nà Sác, Hà Quảng, Cao Bằng

33. Hoàng Văn Sùng (Lương Văn Ích)

Dân tộc: Nùng

Quê quán: Trường Hà, Hà Quảng, Cao Bằng

34. Mông Văn Vẩy (La Thanh);

Dân tộc: Nùng

Quê quán: Tràng Xá, Võ Nhai

Liệt sĩ

Mười lời thề danh dự của đội viên Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân

Chúng tôi đội viên Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, xin lấy danh dự của một người chiến sỹ cứu quốc mà thề dưới lá cờ đỏ sao vàng năm cánh. Xin thề:

1. Hy sinh tất cả vì tổ quốc Việt Nam, chiến đấu đến giọt máu cuối cùng để tiêu diệt bọn phát xít Nhật - Pháp và bọn Việt gian phản quốc, làm cho nước Việt Nam trở nên một nước độc lập và dân chủ ngang hàng với các nước dân chủ trên thế giới.

2. Tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh của cấp chỉ huy, khi nhận được mệnh lệnh gì sẽ tận tâm, tận lực thi hành cho nhanh chóng và chính xác.

3. Bao giờ cũng kiên quyết chiến đấu, dù gian lao khổ sở cũng không phàn nàn, vào sống ra chết cũng không sờn chí, khi ra trận quyết chí xung phong, dù đầu rơi máu chảy cũng không lùi bước.

4. Lúc nào cũng khẩn trương hoạt bát, hết sức học tập để tự rèn luyện thành một quân nhân cách mạng, xứng đáng là một người chiến sỹ tiên phong giết giặc cứu nước.

5. Tuyệt đối giữ bí mật cho bộ đội về nội dung tổ chức, về các cấp chỉ huy, tuyệt đối giữ bí mật cho tất cả các đoàn thể cứu quốc.

6. Khi ra trận nếu bị quân địch bắt được, thì dù cực hình tàn khốc thế nào cũng cương quyết một lòng trung thành với sự nghiệp giải phóng của toàn dân, không bao giờ cung khai phản bội.

7. Hết sức ái hộ bạn chiến đấu cũng như bản thân, hết lòng giúp đỡ nhau lúc thường cũng như lúc ra trận.

8. Hết sức giữ gìn vũ khí, không bao giờ để vũ khí hư hỏng, hay rơi vào tay quân thù.

9. Khi tiếp xúc với dân sẽ làm đúng ba điều răn: "không lấy của dân" - "không dọa nạt dân"- "không quấy nhiễu dân" và ba điều nên: "kính trọng dân" - "giúp đỡ dân" - "bảo vệ dân", để gây lòng tin cậy đối với dân chúng, thực hiện quân dân nhất trí giết giặc cứu nước.

10. Bao giờ cũng nêu cao tinh thần tự phê bình, giữ tư cách cá nhân mô phạm, không làm điều gì hại đến thanh danh Giải phóng quân và Quốc thể của Việt Nam.

CÁN BỘ ĐẠI ĐỘI VÀ TRUNG ĐỘI CỦA ĐẠI ĐỘI VIỆT NAM TUYÊN TRUYỀN GIẢI PHÓNG QUÂN ĐẦU TIÊN

Cán bộ Đại đội
Hoàng Sâm: đại đội trưởng
Xích Thắng: chính trị viên
Hoàng Văn Thái: tình báo và kế hoạch tác chiến
Lâm Kính: công tác chính trị
Văn Tiên: quản lý

Trung đội 1
Nam Tuấn: trung đội trưởng
Vũ Lập: chính trị viên
Bế Văn Sắt: trung đội phó

Trung đội 2
Đàm Quốc Chủng: trung đội trưởng
Nam Long (lúc đầu): chính trị viên
Mai Trung Lâm (về sau): chính trị viên 
Bế Sơn Cương: trung đội phó

Trung đội 3
Đàm Quang Trung: trung đội trưởng
Hoàng Thịnh: chính trị viên
Mông Phúc Thơ (lúc đầu): trung đội phó
Đào Mạnh Vy (về sau): trung đội phó

Trung đội 4
Lĩnh Thành: trung đội trưởng
Nam Long: chính trị viên
Nông Quốc Sùng: trung đội phó

DANH SÁCH ĐỘI DU KÍCH PÁC BÓ

1. Lê Quảng Ba: đội trưởng
2. Lê Đinh (Lê Thiết Hùng): chính trị viên
3. Trần Sơn Hùng (Hoàng Sâm): đội phó
4. Cường Tiến (Nguyễn Văn Cơ - Bằng Giang): đội viên
5. Hải Tâm (Bế Sơn Cương): đội viên
6. Đức Thanh: đội viên
7. Thế An: đội viên
8. Nông Văn Chủng (tức Phùng): đội viên
9. Tống Dề (tức La): đội viên
10. Nông Thị Trưng: đội viên
11 Quang Hưng (Dương Mạc Hiếu): đội viên
12. Sĩ Cương: đội viên .

DANH SÁCH TIỂU ĐỘI CẬN VỆ ĐẶC BIỆT

1 Phạm Văn Quý: tiểu đội trưởng
2. Lưu Minh Đức: báo vụ viên
3. Phan Việt Bắc: báo vụ viên
4. Đoàn Hồng Sơn: báo vụ viên
5. Hoàng Việt Huy: báo vụ viên
6. Kim Anh: đội viên
7. Văn Lâm: đội viên
8. Giang Lâm: đội viên
9. Nông Ngọc Tuân: đội viên
10. Đinh Đại Toàn: đội viên
11. Trần Đình: đội viên
12. Đội viên (Không rõ tên.)

Comments (0)

Subscribe to this comment's feed

Write comment

smaller | bigger

busy

Tin liên quan:
Tin mới hơn:
Tin cũ hơn: