Share |

Trung tướng Nam Long

Trung tướng Nam Long, tên thật Đoàn Văn Ưu, dân tộc Tày. Ngày sinh: 8-10-1921. Ngày mất:1-7-1999 Quê quán:sinh tại xã Đề Thám, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Được cử đi học tại Trường Hoàng Phổ-Trung Quốc năm 1941. Tham gia vào đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương vào tháng 1,1945; tháng 8,1945, được cử làm Đại đội trưởng đơn vị bảo vệ Bác Hồ.

Sau khi Cách mạng tháng tám thành công,đồng chí là Chi đội trưởng Nam tiến chiến đấu ở Nam Trung Bộ và Nam Bộ.

Tháng 4,1946, đồng chí đảm nhiệm các chức vụ: Trung đoàn trưởng Trung đoàn Hải Dương, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 59, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 36, ủy viên Khu 12;Trung đoàn trưởng Trung đoàn 141- Sư đoàn 312;Chỉ huy phó Mặt trận Lạng Sơn, Đảng ủy viên Mặt trận.

1953-1955, đồng chí được bổ nhiệm các chức vụ: Tham mưu trưởng Sư đoàn 304, Đảng ủy viên Sư đoàn;Sư đoàn trưởng Sư đoàn 304.

Năm 1956, được cử đi học tại Học viện Bộ Tổng tham mưu quân đội Xô Viết.

Năm 1958, đồng chí về nước, được bổ nhiệm làm Phó tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Bộ tư lệnh Pháo binh. 1961-1973, được bổ nhiệm các chức vụ: Phó tư lệnh Quân khu Tả Ngạn;Phó tư lệnh, sau đó làm Tư lệnh Quân khu 4; Phó tư lệnh Quân khu Trị- Thiên.

Năm 1974, được bổ nhiệm làm Phó giám đốc Học viện quân sự(nay là Học viện lục quân). Tháng4-1975,đồng chí là đặc phái viên của Bộ Quốc phòng, tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh.

Năm 1977, được bổ nhiệm làm Phó giám đốc Học viện quân sự cấp cao(nay là Học viện Quốc phòng). Nghỉ hưu năm 1988.

Đồng chí được phong quân hàm Đại tá năm 1958, Thiếu tướng năm 1974, Trung tướng năm 1981.Đồng chí được tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh và nhiều Huân chương cao quý khác.Năm 2007,đồng chí Trung tướng Nam Long được tạc tượng đồng bán thân đem tặng viện Bảo tàng quân sự và tặng tỉnh Cao Bằng, quê hương đồng chí.


Nguyên Phó Giám đốc Học viện lục quân,

Nguyên Tư lệnh Quân khu 4,

Nguyên Phó Tư lệnh Quân khu Tả Ngạn,

Nguyên Tư lệnh Binh chủng Pháo binh Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ngày 19/5/2007, Hội sử học Việt Nam đã trân trọng tặng Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam bức tượng đồng của ông.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất (2) hạng Ba (1), 2 Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất Nhì Ba, Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng Nhất Nhì Ba, Huy chương Quân kỳ quyết thắng.

Ông được phong quân hàm Thiếu tướng năm 1974, Trung tướng năm 1981.

Comments (0)

Subscribe to this comment's feed

Write comment

smaller | bigger

busy

Tin liên quan:
Tin mới hơn:
Tin cũ hơn: