Share |

Quan trạng Đặng Công Chất bị oan

Chuyện rằng, trạng nguyên Đặng Công Chất tài cao đức trọng, hiểu biết uyên thâm, văn võ song toàn, khi cùng Đinh Văn Tả lên Cao Bằng đánh dẹp loạn nhà Mạc thì ông đã là một vị tướng giỏi, thao lược có công dẹp loạn ở Nghệ An và được vua Lê – Chúa Trịnh bổ làm Đô Tổng binh Thiêm sự Cao Bằng giúp Đốc trấn Đinh Văn Tả cai quản trấn Cao Bằng, triều đình bổ Đinh Văn Tả làm thượng thư Bộ binh, Tả tướng quốc lo việc triều chính, lại thăng Đặng Công Chất làm quan đốc trấn, đó là vào năm 1678.

Bây giờ vùng Cao Bằng mới dẹp xong nhà Mạc cát cứ, lòng dân còn xốn xang, lại thêm loạn thổ hào nhiều nơi chưa theo về vua Lê – Chúa Trịnh. Mặc dù quan trạng cố hết mình cũng không làm cho tình hình ổn định. Lại thêm mấy vị quan cấp dưới luôn gầm ghè nhau, mất đoàn kết, gây bè. Tình hình vùng biên ải vốn đã khó khăn do chiến tranh Trịnh - Mạc gây ra, nay lại càng khó khăn thêm. Dân ở các lũng động bị đói, thường bị bọn thổ phỉ cướp giật, lại thêm quan nha bức bách… nên vô cùng khốn khổ. Họ ca thán về vị quan đốc trấn bất lực. Nhân lúc đó bọn ghen tỵ tấu lên triều đình, rằng quan đốc trấn “mất lòng dân, ăn của hối”!! Chúa Trịnh Tạc nhận được bèn triệu ông về triều và bổ Thiêm tướng bình sự, Lê Thì Hải lên thay làm Đốc trấn, đó là vào năm 1680. Lê Thì Hải là một tướng giỏi, có nhiều kinh nghiệm trong việc bình định, dẹp loạn, qua xác minh điều tra mới rõ, bọn thổ hào, sai nha ở vùng này thật đáo để, lại được bọn ở ngoài xúi giục nên hay làm bậy và càn quấy. Ông dùng biện pháp “đánh rắn phải đánh dập đầu”, một mặt lo trừ khử bọn đầu têu, đồng thời cách bọn hay đặt điều, nhũng nhiễu, vỗ về nhân dân, lo làm thuỷ lợi, chăm dân phát triển nông nghiệp nên một thời gian cả trấn Cao Bằng yên ổn. Ông cũng tấu lên Chúa Trịnh Tạc rằng quan trạng Đặng Công Chất bị oan, một số kẻ quan nha do ghen tỵ nên đã nảy ý chơi xấu, viết điều xằng báo lên triều đình. Rồi Đặng Công Chất được thăng Thượng thư Bộ Hình, Bộ Binh… Vua Lê - Chúa Trịnh sủng ái.

Chuyện về quan trạng: Ông sinh 1621 (có tài liệu ghi 1622), người làng Phù Đổng, Huyện Tiên Du, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc (nay là Bắc Ninh) trong một gia đình khoa bảng, quan lại. Từ nhỏ ông rất hiếu học, quanh năm hầu như không lúc nào rời sách thánh hiền. Theo tư liệu ghi về ông, khi còn nhỏ, tại chỗ học của mình, ông đã đề câu đối: Lương năng do kỷ hữu – Chí nghiệp sự thiên thành. Có nghĩa là: Tài năng là do mình tự có -  sự nghiệp phải nhờ trời mới nên. Trong cuộc sống ông luôn lấy chữ tình, chữ nghĩa làm trọng. Tuy học giỏi nhưng con đường thi cử của ông cũng lận đận, mãi năm 40 tuổi, vào khoa thi năm Tân Sửu – 1661, niên hiệu Vĩnh Thọ thứ 4, ông mới đỗ và đỗ trạng nguyên và được bổ làm Hiển cung đại phu, Hàn lâm thị giảng, sau được làm Đô Tổng Binh Thiêm sự Cao Bằng, Thượng thư Bộ Hình, Thượng thư Bộ Binh… Ông mất năm 1683, được tặng Thiếu bảo, phong Tước bá.

Đương thời, ông cùng Hồ Sỹ Dương, Đào Công Chính, Nguyễn Công Vọng, Thiêm Sỹ Lâm soạn các bộ sách: Lam Sơn thực lục, Đại việt sử ký toàn biên… Ông còn soạn bài văn bia ở chùa Trấn Vũ - Hà Nội. Ngoài ra, ông mở trường ở quê, học trò có nhiều người đỗ đạt và làm quan to ở triều đình.


(Hữu Huyền)

Comments (0)

Subscribe to this comment's feed

Write comment

smaller | bigger

busy

Tin mới hơn:
Tin cũ hơn: